Bảo vệ tài sản trí tuệ Việt Nam

KẾT QUẢ TỔNG KẾT 06 NĂM THI HÀNH LUẬT THANH TRA TẠI BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 

 

Lê Thị Loan - Thanh tra Bộ KH&CN

 

Sau 06 năm thi hành Luật Thanh tra, công tác lãnh đạo, chỉ đạo  tuyên truyền, quán triệt Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành và hoạt động thanh tra, kiểm tra đã được Bộ KH&CN chú trọng thực hiện tốt trên các mặt công tác, cụ thể:

 

I. Kết quả thực hiện các quy định của Luật Thanh tra

 

1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, quán triệt Luật Thanh tra và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành

 

1.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo

 

Lãnh đạo Bộ KH&CN đã chỉ đạo các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra thuộc Bộ quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo nhằm phát hiện kịp thời những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật; kiến nghị cấp có thẩm quyền biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

 

Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030  và thực hiện đổi mới công tác tổ chức, cán bộ nhằm bảo đảm thực hiện Luật thanh tra và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

 

Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị có chức năng thanh tra thuộc Bộ, phù hợp với Nghị định số 95/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN. 


1.2. Công tác tuyên truyền

 

Từ khi Luật thanh tra số 56/2010/QH12 được ban hành, Bộ KH&CN đã tổ chức tuyên truyền, quán triệt Luật Thanh tra và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thông qua các Hội nghị, Hội  thảo, lồng ghép vào các buổi họp giao ban, sinh hoạt chi bộ, cụ thể: Bộ KH&CN đã tổ chức 15 hội nghị tập huấn nghiệp vn, quán triệtụ thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực quản lý nhà nước về KH&CN để tuyên truyền phổ biến Luật thanh tra và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan  cho khoảng khoảng 2.100 lượt cán bộ, công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý của các Sở KH&CN; thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho các Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và một số đơn vị có liên quan trong việc xử lý hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; hàng hóa vi phạm quy định về TCĐLCL, ATBX,HN, góp phần nâng cao nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra cho các lực lượng chức năng tại địa phương; đồng thời, công khai trên Cổng thông tin của Bộ và một số đơn vị trực thuộc Bộ để tuyên truyền, quán triệt các quy định của Luật Thanh tra và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

 

2. Công tác ban hành, kiểm tra, theo dõi thi hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra

 

2.1. Việc ban hành và tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành văn bản:

 

Bộ KH&CN đã trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền 05 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 02 Nghị định của Chính phủ, 04 Thông tư của Bộ KH&CN, cụ thể:

 

- Nghị định số 213/2013/NĐ-CP ngày 20/12/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành KH&CN (sau đây gọi tắt là Nghị định số 213/2013/NĐ-CP);

 

- Nghị định số 27/2017/NĐ-CP ngày 15/3/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 213/2013/NĐ-CP ngày 20/12/20113 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành KH&CN (sau đây gọi tắt là Nghị định số 27/2017/NĐ-CP);

 

- Thông tư số 24/2015/TT-BKHCN ngày 16/11/2015 của Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định về thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành và cộng tác viên thanh tra ngành KH&CN;

 

- Thông tư số 22/2016/TT-BKHCN ngày 28/12/2016 của Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định mẫu văn bản sử dụng trong hoạt động thanh tra, xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực KH&CN;

 

- Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 24/2015/TT-BKHCN ngày 16/11/2015 của Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định về thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành và cộng tác viên thanh tra ngành KH&CN (đang nghiên cứu, tiếp thu ý kiến góp ý các đơn vị liên quan để hoàn thiện dự thảo Thông tư, dự kiến ban hành tháng 12 năm 2017).


2.2. Công tác kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật

 

Bộ KH&CN giao Vụ Pháp chế là đơn vị đầu mối có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng về công tác kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ . Hàng năm, Vụ Pháp chế xây dựng kế hoạch kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật, gửi công văn đôn đốc các đơn vị liên quan xây dựng, tổ chức thực hiện Kế hoạch; tổ chức tập huấn giới thiệu các văn bản quy phạm pháp luật mới cho lãnh đạo và công chức làm công tác pháp chế của các đơn vị có liên quan thuộc Bộ.


3. Tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức, viên chức của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

 

3.1. Hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra thuộc phạm vi quản lý và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan

 

- Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra ngành KH&CN được quy định tại Điều 4 Nghị định số 213/2013/NĐ-CP và Điểm c, Khoản 1, Điều 1 Nghị định số 27/2017/NĐ-CP gồm: (i) Cơ quan thanh tra nhà nước (Thanh tra Bộ KH&CN; Thanh tra Sở KH&CN); (ii) Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (Tổng cục TCĐLCL; Cục ATBX,HN; Chi cục TCĐLCL thuộc Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).

 

- Mối quan hệ phối hợp và trách nhiệm trong hoạt động của Thanh tra ngành KH&CN được quy định tại Điều 12 số Nghị định 213/2013/NĐ-CP và Điểm b Khoản 4 Điều 1 Nghị định 27/2017/NĐ-CP, cụ thể:

 

+ Thanh tra Bộ hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành KH&CN đối với Tổng cục, Cục, Thanh tra Cục, Thanh tra Sở, Chi cục;

 

+ Tổng cục, Cục, Thanh tra Cục thực hiện sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành KH&CN của Thanh tra Bộ; phối hợp, hỗ trợ Thanh tra Bộ hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành KH&CN đối với Thanh tra Sở, Chi cục; phối hợp với Thanh tra Sở, Chi cục khi tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành thuộc thẩm quyền được giao;

 

+ Thanh tra Sở thực hiện sự hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành KH&CN của Thanh tra Bộ; cử cán bộ tham gia phối hợp với Thanh tra Bộ, Tổng cục, Cục và Thanh tra Cục thanh tra chuyên ngành KH&CN  khi được đề nghị;

 

+ Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra KH&CN có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan khác để thực hiện nhiệm vụ thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực KH&CN.  

 

+ Chi cục có trách nhiệm thực hiện hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành KH&CN của Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở, Tổng cục; cử công chức tham gia phối hợp thanh tra chuyên ngành KH&CN với Thanh tra Bộ, Tổng cục, Cục, Thanh tra Cục và Thanh tra Sở khi được đề nghị.


3.2. Tổ chức bộ máy trong các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

 

Tổ chức Thanh tra KH&CN được quy định tại Điều 4 Nghị định số 213/2013/NĐ-CP và Điểm c Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 27/2017/NĐ-CP, gồm: Thanh tra Bộ; Thanh tra Sở KH&CN; Tổng cục TCĐLCL; Cục ATBX,HN; Chi cục TCĐLCL trực thuộc Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

 

a. Thanh tra Bộ KH&CN

 

Thanh tra Bộ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ (được ban hành kèm theo Quyết định 638/QĐ-BKHCN ngày 04/4/2014 của Bộ trưởng Bộ KH&CN) và Quy chế về chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của các Phòng trực thuộc Thanh tra Bộ (ban hành kèm theo Quyết định số 40/QĐ-TTra ngày 01/8/2017).

 

Về tổ chức bộ máy: Thanh tra Bộ có 04 Phòng nghiệp vụ: Phòng Tổng hợp và thanh tra hành chính (Phòng Thanh tra 1); Phòng Thanh tra KH&CN (Phòng Thanh tra 2); Phòng Thanh tra Sở hữu trí tuệ (Phòng Thanh tra 3); Phòng Thanh tra TCĐLCL và ATBX,HN (gọi tắt là Phòng Thanh tra 4). 

 

Thanh tra Bộ là cơ quan có con dấu và tài khoản riêng.

 

b. Tổng Cục TCĐLCL

 

Tổng cục TCĐLCL hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao tại Quyết định 27/2014/QĐ-TTg ngày 04/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục TCĐLCL và là Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành TCĐLCL tại Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ  quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành (sau đây gọi tắt là Nghị định số 07/2012/NĐ-CP).

 

Về bộ máy giúp việc: Tổng cục có Vụ Pháp chế - Thanh tra là đơn vị tham mưu về công tác thanh tra chuyên ngành cho Tổng cục trưởng.

 

c. Cục ATBX,HN

 

Cục ATBX,HN  thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao tại Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Cục ATBX,HN (ban hành kèm theo Quyết định 217/QĐ-BKHCN ngày 18/02/2014 của Bộ trưởng Bộ KH&CN).

 

Về bộ máy giúp việc: Có cơ quan Thanh tra Cục ATBX,HN. 

 

3.3. Biên chế, cơ cấu ngạch, bậc; công tác đào tạo, bồi dưỡng; việc thực hiện chuyển ngạch, nâng ngạch của đội ngũ công chức, viên chức trong các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

 

- Biên chế, cơ cấu ngạch, bậc:

 

+ Thanh tra Bộ hiện có 17 công chức và 02 lao động hợp đồng (trong đó có 01 trường hợp Hợp đồng theo Nghị định 68).

 

+ Tổng cục TCĐLCL có 38 công chức thanh tra chuyên ngành KH&CN, trong đó Vụ Pháp chế - Thanh tra là bộ phận giúp việc về công tác thanh tra chuyên ngành cho Tổng cục TCĐLCL (có 09 công chức).

 

+ Thanh tra Cục ATBX,HN có 12 cán bộ, trong đó có 01 công chức và 11 lao động hợp đồng. 

 

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng: 

 

+  Trường Quản lý KH&CN (nay là Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo) chủ trì, phối hợp với Thanh tra Bộ tổ chức 16 Khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho đối tượng là lãnh đạo Sở, công chức, thanh tra viên của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để triển khai Luật thanh tra và các văn bản pháp luật khác có liên quan (Nghị định số 07/2012/NĐ-CP; Nghị định số 213/2013/NĐ-CP; Nghị định số 27/2017/NĐ-CP,…).

 

+ Tổng cục TCĐLCL phối hợp với Trường cán bộ Thanh tra - Thanh tra Chính phủ tổ chức 02 lớp tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành về TCĐLCL, trong đó có 01 lớp tập huấn nghiệp vụ thanh tra cho Chi cục TCĐLCL các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương khu vực phía bắc để triển khai thực hiện Nghị định số 27/2017/NĐ-CP.

 

+ Thanh tra các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh mở trên địa bàn tỉnh và tham gia các lớp tập huấn do Vụ Pháp chế, Thanh tra Bộ, các cục, tổng cục thuộc Bộ tổ chức. 

 

3.4. Cơ chế bảo đảm kinh phí cho hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, bao gồm cả việc bảo đảm chính sách, chế độ đãi ngộ cho đội ngũ công chức, viên chức

 

Bộ KH&CN, Sở KH&CN bố trí nguồn kinh phí hàng năm cho Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở phục vụ công tác thanh tra trong năm, bao gồm các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xác minh, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tổ chức hội nghị, hội thảo, công tác phí, trang phục thanh tra.

 

Thanh tra viên thuộc Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở được hưởng các chế độ phụ cấp theo quy định, bao gồm phụ cấp nghề, chế độ thâm niên nghề đối với thanh tra viên, trang phục thanh tra và các chế độ khác theo quy định.

 

Công chức thanh tra chuyên ngành thuộc Tổng cục TCĐLCL được hưởng chế độ bồi dưỡng, được cấp trang phục thanh tra chuyên ngành theo quy định. Tuy nhiên, Thanh tra Cục ATBX,HN do phần lớn là lao động hợp đồng nên chưa được hưởng chế độ đãi ngộ cho công chức, viên chức thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, cũng như chế độ phụ cấp độc hại khi làm việc trong môi trường phóng xạ nguy hiểm.


4. Công tác xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra và điều phối, xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra

 

4.1. Việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra và điều chỉnh kế hoạch thanh tra hàng năm của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

 

Hàng năm, căn cứ Luật Thanh tra, Thông tư số 01/2014/TT-TCCP ngày 23/4/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra; căn cứ yêu cầu quản lý nhà nước  của Bộ KH&CN, những vấn đề bức xúc mà dư luận xã hội quan tâm và những vụ việc phức tạp, có dấu hiệu vi phạm pháp luật được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, Thanh tra Bộ đôn đốc, hướng dẫn Tổng cục TCĐLCL, Cục ATBX,HN xây dựng kế hoạch thanh tra trong lĩnh vực đã được phân cấp; tổng hợp kế hoạch thanh tra của Bộ trình Bộ trưởng phê duyệt trước ngày 25/11 hàng năm (Khoản 3 Điều 36 Luật Thanh tra), bảo đảm việc xây dựng kế hoạch thanh tra của Bộ có trọng tâm, trọng điểm, tránh chồng chéo, trùng lắp về nội dung và đối tượng thanh tra.

 

Việc điều chỉnh kế hoạch thanh tra được thực hiện khi có yêu cầu từ các cấp có thẩm quyền hoặc vụ việc phát sinh trên thực tiễn cần thanh tra, kiểm tra để làm rõ và có phương án xử lý, chấn chỉnh kịp thời vi phạm.

 

4.2. Việc hướng dẫn, kiểm tra công tác xây dựng kế hoạch thanh tra và thực hiện kế hoạch thanh tra hằng năm

 

Thanh tra Bộ là đơn vị đầu mối thực hiện kế hoạch thanh tra của Bộ đã chủ động, tích cực hướng dẫn, đôn đốc Tổng cục TCĐLCL, Cục ATBX,HN xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch thanh tra theo tiến độ đã được phê duyệt; báo cáo Lãnh đạo Bộ, Thanh tra Chính phủ kết quả thực hiện kế hoạch thanh tra, những khó khăn, tồn tại trong việc thực hiện kế hoạch thanh tra của Bộ theo quy định.

 

4.3. Việc theo dõi, phối hợp xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

 

Trong thời gian qua, việc triển khai, thực hiện kế hoạch thanh tra của Bộ KH&CN được thực hiện theo quy định của pháp luật, chưa thấy có sự chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung và thời gian thanh tra đối với các đơn vị trong Bộ KH&CN. Tuy nhiên, quá trình thanh tra đối với tổ chức, cá nhân liên quan, Bộ KH&CN nhận thấy có dấu hiệu chồng chéo giữa Kiểm toán nhà nước và Thanh tra KH&CN trong hoạt động kiểm toán, thanh tra các tổ chức KH&CN công lập: Kiểm toán nhà nước kiểm toán việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước của các tổ chức KH&CN trong thực hiện nhiệm vụ KH&CN; Thanh tra KH&CN cũng tiến hành thanh tra các nhiệm vụ KH&CN, trong đó có kiểm tra việc sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, trong thời gian tới, Bộ KH&CN sẽ chủ đổng rà soát báo cáo Thanh tra Chính phủ Kế hoạch thanh tra hàng năm để khắc phục tình trạng nêu trên, tránh gây phiền hà cho doanh nghiệp theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc gặp mặt các doanh nghiệp hàng năm.


5. Hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành

 

5.1 Hoạt động thanh tra hành chính

 

Thanh tra Bộ chủ trì phối hợp với một số đơn vị thuộc Bộ tiến hành thanh tra hành chính đối với 24 đơn vị trực thuộc Bộ . Đã kết thúc thanh tra đối với 20 đơn vị trực thuộc Bộ (đang dự thảo kết luận thanh tra 01 đơn vị, đã trình Bộ trưởng ban hành Kết luận thanh tra đối với 19 đơn vị), 04 đơn vị thuộc kế hoạch thanh tra năm 2017 đang được Thanh tra Bộ phối hợp với một số đơn vị liên quan tiến hành thanh tra theo quy định .

 

Kết quả thanh tra cho thấy: Về cơ bản, các đơn vị được thanh tra đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành chung của Bộ trưởng. Tuy nhiên, cách thức quản lý, điều hành của một số đơn vị chưa thực sự hiệu quả, cần khẩn trương ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ để công khai, minh bạch về tài chính trong hoạt động của đơn vị; rà soát quy trình bổ nhiệm cán bộ, bố trí cán bộ theo dõi, quản lý nhiệm vụ phù hợp với năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu quản lý của đơn vị. Kết quả thanh tra đã thu hồi về ngân sách nhà nước 2,3 tỷ đồng đối với việc thực hiện Dự án số hóa tư liệu sáng chế do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tài trợ.


5.2. Hoạt động thanh tra chuyên ngành

 

Bộ KH&CN (Thanh tra Bộ, Tổng cục TCĐLCL và Cục ATBX,HN) đã tiến hành 895 cuộc thanh tra đối với 1.041 cơ sở. 

 

Nội dung thanh tra: (i) việc khai báo, xin cấp giấy phép nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ; công tác bảo đảm an toàn, an ninh trong lưu giữ, bảo quản, vận chuyển và sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ; các loại giấy phép tiến hành công việc bức xạ; (ii) việc chấp hành các quy định pháp luật về đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa và chứng nhận sự phù hợp; (iii) việc chấp hành các quy định về đại diện sở hữu công nghiệp; chỉ dẫn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, nhãn hiệu, cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền; (iv) việc công khai các quy định trong thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước; việc quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN. 

 

Hành vi vi phạm chủ yếu được phát hiện qua hoạt động thanh tra: (i) sử dụng, lưu giữ nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ không có giấy phép tiến hành công việc bức xạ; không kiểm xạ định kỳ nơi làm việc của nhân viên bức xạ theo quy định; không tổ chức  đánh giá liều chiếu xạ cá nhân cho nhân viên bức xạ; không báo cáo định kỳ hàng năm về thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ theo quy định; (ii) sử dụng chứng chỉ hiệu chuẩn đã hết hiệu lực kiểm định phương tiện đo nhóm 2; thực hiện cung ứng dịch vụ hiệu chuẩn phương tiện đo chưa đăng ký hoạt động hiệu chuẩn; thực hiện đánh giá, chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn cho khách hàng ngoài lĩnh vực đã đăng ký; (iii) hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, nhãn hiệu, cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền...

 

Qua thanh tra đã phát hiện vi phạm và xử phạt 283 cơ sở về TCĐLCL, ATBX,HN, sở hữu công nghiệp và nhiệm vụ KH&CN với tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 7,7 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước trên 609 triệu đồng.

 

5.3. Về thực hiện công khai kết luận thanh tra

 

Các Kết luận thanh tra thuộc Bộ được công khai theo các hình thức như: Công bố tại cuộc họp hoặc gửi Kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra để tổ chức công bố công khai và thực hiện (đối tượng thanh tra ở xa và không có những kiến nghị phức tạp), đồng thời, đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ KH&CN và trang thông tin của một số đơn vị có liên quan theo quy định pháp luật.


II. ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THANH TRA, CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CHI TIẾT, HƯỚNG DẪN THI HÀNH VÀ VIỆC THI HÀNH LUẬT

 

Luật Thanh tra 2010 được ban hành và có hiệu lực thi hành đã góp phần tạo khung pháp lý quan trọng trong việc hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra. 

 

Luật Thanh tra là công cụ pháp lý quan trọng để cơ quan thanh tra vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, vừa là công cụ hữu hiệu tiến hành thanh tra phục vụ công tác quản lý, điều hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước. 

 

Luật Thanh tra đã bảo đảm việc thi hành các yêu cầu, kiến nghị, kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện kết luận thanh tra. Qua đó, các vi phạm được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời; đồng thời, tăng cường hiệu lực, hiệu quả và kỷ cương, kỷ luật hành chính trong hoạt động quản lý nhà nước.

 

1. Đánh giá việc thi hành Luật Thanh tra

1.1. Những mặt đạt được 

- Về lãnh đạo, chỉ đạo

Việc thi hành Luật Thanh tra và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã được Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ, Đảng ủy Bộ quan tâm chỉ đạo thường xuyên, đồng thời xác định công tác thanh tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm của Bộ hàng năm để phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phòng chống tham nhũng tiêu cực trong các cơ quan, tổ chức.

Bộ trưởng Bộ KH&CN đã kịp thời tham mưu, trình Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thanh tra (chi tiết được nêu tại phần 2.1, Mục II).

- Về kiện toàn tổ chức bộ máy: Sau 6 năm thực hiện Luật thanh tra, tổ chức bộ máy các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành KH&CN đã từng bước được kiện toàn về tổ chức, cụ thể là:

+ Tại Bộ KH&CN: Thanh tra Bộ có 17 công chức (01 chuyên viên chính và 16 thanh tra viên), 02 hợp đồng lao động; 04 phòng trực thuộc; Tổng cục TCĐLCL có bộ phận tham mưu về thanh tra chuyên ngành là Vụ Pháp chế - Thanh tra với 09 công chức trong tổng số 38 công chức thanh tra chuyên ngành của Tổng cục; Cục ATBX,HN có có bộ phận tham mưu về thanh tra chuyên ngành là Thanh tra Cục với 01 công chức và 11 hợp đồng lao động.

+ Tại Sở KH&CN các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục TCĐLCL đang bước đầu kiện toàn về tổ chức theo quy định tại Nghị định số 27/2017/NĐ-CP.

- Về hiệu quả hoạt động

Công tác thanh tra tại Bộ KH&CN được thực hiện bài bản, đúng quy định pháp luật, mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng được yêu cầu quản lý của Bộ. Qua công tác thanh tra, các cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ngành KH&CN đã phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, nhất là một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng như: sở hữu công nghiệp, TCĐLCL, an toàn và kiểm soát bức xạ hạt nhân.

Đối với các đơn vị thuộc Bộ, Thanh tra Bộ KH&CN đã tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thanh tra, đồng thời tăng cường công tác tự kiểm tra, thanh tra, kịp thời giải quyết các khiếu nại, tố cáo, phản ánh của công chức, viên chức và người dân, do vậy, cơ bản đã giữ vững sự ổn định, tăng cường sự đoàn kết nội bộ trong từng đơn vị.

1.2. Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân

1.2.1. Những tồn tại, hạn chế

a. Về tổ chức bộ phận tham mưu về thanh tra chuyên ngành: 

Mặc dù, Tổng cục TCĐLCL đã tổ chức bộ phận tham mưu về thanh tra chuyên ngành theo mô hình vụ, song việc tổ chức này vẫn chưa hợp lý do biên chế của các đơn vị rất hạn hẹp nên phải ghép bộ phận làm thanh tra với bộ phận làm pháp chế.

b. Về năng lực thanh tra chuyên ngành: 

- Đối với Thanh tra Bộ: Về cơ bản, năng lực của lực lượng thanh tra chuyên ngành đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tuy nhiên, do khối lượng công việc lớn, nhiều công việc đột xuất trong khi số lượng thanh tra viên mỏng (17 thanh tra viên), nên việc triển khai công tác chuyên môn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là yêu cầu về tiến độ cũng như sự chủ động triển khai một số nhiệm vụ công tác đột xuất. 

- Đối với cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (Tổng cục TCĐLCL; Cục ATBX,HN): công tác thanh tra tại các cơ quan này chủ yếu do công chức thuộc bộ phận tham mưu về thanh tra chuyên ngành thực hiện mà chưa phát huy được trí tuệ, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn sâu của các công chức khác thực hiện nhiệm vụ chuyên môn tại các vụ/phòng trong đơn vị.

 c. Về quy trình, thủ tục tiến hành hành thanh tra: 

- Do đặc thù của đối tượng thanh tra chuyên ngành hầu hết là những cơ sở nhỏ, lẻ nên thông thường việc thanh tra tại một cơ sở diễn ra trong thời gian ngắn (thường là trong ngày). Do vậy, việc thực hiện quy trình thanh tra theo đúng quy định tại Luật thanh tra, Nghị định số 07/2012/NĐ-CP và Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Tổng Thanh tra Chính phủ như việc lập biên bản công bố quyết định thanh tra, lập biên bản công bố kết luận thanh tra tại cơ sở là khó thực hiện do đối tượng ở xa, đi lại khó khăn, tốn kém kinh phí.

d. Về thực hiện pháp luật về thanh tra liên ngành

- Quy định pháp luật về các căn cứ thành lập Đoàn thanh tra liên ngành tiến hành hoạt động thanh tra còn hạn chế, mới chỉ dừng lại ở những vụ việc đặc biệt phức tạp có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực mà chưa mở rộng các trường hợp giải quyết những vấn đề liên ngành để hạn chế chồng chéo trong hoạt động thanh tra.

- Về việc phối hợp thành lập Đoàn thanh tra: thời gian qua, việc phối hợp trong việc cử người tham gia Đoàn thanh tra liên ngành thường gặp một số khó khăn do các cơ quan tham gia chưa nhận thức được hết vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt động thanh tra liên ngành, cho nên, việc thanh tra chủ yếu do cơ quan chủ trì thực hiện, vai trò thành viên tham gia Đoàn thanh tra mang tính hình thức nên nhiều trường hợp cử cán bộ không đủ năng lực, trình độ chuyên môn tham gia Đoàn thanh tra, làm giảm hiệu quả hoạt động thanh tra liên ngành.

- Vai trò, trách nhiệm của cơ quan có thành viên tham gia Đoàn liên ngành chưa được phát huy đúng mức: Thanh tra liên ngành bao gồm nhiều thành viên đại diện từ các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, vai trò, trách nhiệm của các thành viên của các cơ quan được cử tham gia Đoàn liên ngành chưa được đề cao, chưa xác định được rõ nét vị trí, vai trò, trách nhiệm với tư cách là thành viên đại diện cho cơ quan cử tham gia đoàn. Do vậy, trong nhiều trường hợp, kết quả thanh tra liên ngành không thể hiện đặc thù, không có sự khác biệt so với một cuộc thanh tra thông thường, chưa phát huy được yếu tố liên ngành.

đ. Về công khai kết luận thanh tra: Qua thực tiễn triển khai công tác thanh tra cho thấy, việc công bố công khai kết luận thanh tra tại cuộc họp với thành phần gồm người ra quyết định thanh tra hoặc người được ủy quyền, đại diện Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan rất khó thực hiện và có nhiều trường hợp không cần thiết do đối tượng thanh tra có thể chỉ là các hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ lẻ, đi lại xa xôi, gây tốn kém cho doanh nghiệp và ngân sách nhà nước trong bối cảnh kinh phí hành chính hiện nay đang rất hạn hẹp. 

1.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc 

* Nguyên nhân khách quan:

- Hệ thống văn bản pháp luật về thanh tra còn chưa đầy đủ, thiếu cụ thể, chưa tính đến các quy định đặc thù đối với ngành, lĩnh vực, địa bàn. 

+ Trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra theo quy định của pháp luật thanh tra chưa phù hợp với tính đặc thù của thanh tra chuyên ngành, chưa bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời trong xử lý các hành vi vi phạm hành chính phát hiện qua công tác thanh tra. 

+ Quy định pháp luật về thanh tra liên ngành còn thiếu thống nhất chưa rõ ràng và đầy đủ.

 - Có sự chồng chéo trong hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng thanh tra.

- Đội ngũ thanh tra viên được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và thường xuyên biến động, thiếu tính ổn định, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao, do đó đã ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra.

- Tổ chức thanh tra - thanh tra chuyên ngành còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, nhất là lực lượng thanh tra chuyên ngành còn thiếu về số lượng và năng lực chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới.

 * Nguyên nhân chủ quan:

- Do số lượng công chức thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ít so với yêu cầu công việc được giao, chưa phát huy tối đa nguồn lực tại các phòng chuyên môn trong các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (Tổng cục TCĐLCL, Cục ATBX,HN). 

- Năng lực, trình độ của đội ngũ công chức làm công tác thanh tra trong các cơ quan thanh tra nhà nước hoặc cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành còn hạn chế, chưa tương xứng, đáp ứng yêu cầu công việc được giao.

2. Đánh giá các quy định của Luật Thanh tra và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

2.1. Các quy định chung của Luật Thanh tra 

a. Về vị trí, vai trò và chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước trong mối quan hệ với cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên và cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; các nguyên tắc hoạt động thanh tra và các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh tra là phù hợp.

b. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong hoạt động thanh tra: 

Mặc dù Luật Thanh tra đã quy định cụ thể nghĩa vụ của đối tượng thanh tra (Điều 58), tuy nhiên, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe đối với trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến nội dung thanh tra thiếu cộng tác với Đoàn thanh tra, thậm chí chống đối hoạt động thanh tra, thiếu hợp tác trong việc cung cấp thông tin, tài liệu cho Đoàn thanh tra. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực, hiệu quả và thời gian của hoạt động thanh tra. Do vậy, pháp luật thanh tra cần phải bổ sung và quy định rõ với chế tài mạnh hơn vấn đề này.

2.2. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra nhà nước; cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành

a. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra nhà nước và người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước; của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và người đứng đầu cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là phù hợp.

b. Mối quan hệ về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan thanh tra nhà nước và giữa các cơ quan thanh tra nhà nước với cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (giữa Thanh tra Chính phủ với Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh; giữa Thanh tra bộ với cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ; giữa Thanh tra bộ với Thanh tra tỉnh; giữa Thanh tra tỉnh với Thanh tra huyện, Thanh tra sở và các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ở địa phương) là phù hợp.

2.3. Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra

a. Tiêu chuẩn chung, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ và chế độ, chính sách đối với các ngạch thanh tra viên; công chức thanh tra chuyên ngành; cộng tác viên thanh tra là phù hợp, tuy nhiên hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cộng tác viên nên việc thực hiện còn rất khó khăn và hầu như chưa thực hiện được, làm ảnh hưởng đến thực hiện chế độ, chính sách đối  với cộng tác viên.

b. Chế độ đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ, đặc biệt là nghiệp vụ thanh tra cho các ngạch thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành đối với các cơ quan thanh tra nhà nước là phù hợp; đối với cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là chưa phù hợp, ảnh hưởng đến việc tổ chức đào tạo, cấp chứng chỉ nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành. Quy định này cần được sửa đổi theo hướng, giao cho các Bộ, cơ quan thực hiện nhằm bảo đảm sự chủ động, kịp thời và phù hợp với tính chuyên sâu theo từng ngành, lĩnh vực cụ thể (Điều 34 Luật Thanh tra).

2.4. Hoạt động thanh tra và giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra

a. Các quy định về xây dựng, phê duyệt Định hướng chương trình, kế hoạch thanh tra; hình thức, căn cứ ra quyết định thanh tra, các thời hạn trong hoạt động thanh tra và việc xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra là phù hợp.

 Đối với việc công khai kết luận thanh tra là không phù hợp đối với thanh tra chuyên ngành do việc yêu cầu đối tượng thanh tra đi lại để công khai kết luận thanh tra tốn kém về thời gian và chi phí, đặc biệt trong trường hợp đối tượng thanh tra ở xa.

b. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động thanh tra hành chính, hoạt động thanh tra chuyên ngành, đặc biệt là hoạt động thanh tra liên ngành, hoạt động thanh tra của của công chức thanh tra chuyên ngành:

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động thanh tra hành chính như quy định tại Luật thanh tra là phù hợp.

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành như quy định hiện nay tại Luật thanh tra là chưa phù hợp, lý do: hoạt động thanh tra chuyên ngành ở một số ngành, lĩnh vực quản lý có tính đặc thù nhưng quy định trình tự, thủ tục về nội dung, phạm vi, tính chất thanh tra cơ bản là giống nhau, chưa thể hiện tính đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực (kinh doanh xăng dầu, mũ bảo hiểm, hàng đóng gói sẵn, các cơ sở khám chữa bệnh,...). Hơn nữa, quy định của pháp luật thanh tra hiện hành về nội dung này chưa được hướng dẫn cụ thể mà áp dụng theo trình tự, thủ tục chung của hoạt động thanh tra hành chính đã làm giảm hiệu quả công tác thanh tra chuyên ngành, không đáp ứng được tính nhanh chóng, kịp thời xử lý ngay các hành vi vi phạm, tốn kém công sức, thời gian và kinh phí (ví dụ: trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra, công bố Quyết định thanh tra, công bố Kết luận thanh tra,...).

c. Nhiệm vụ, quyền hạn và đặc biệt là việc thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra của người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra, thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành: Đối với hoạt động thanh tra hành chính là phù hợp. Tuy nhiên, đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành là chưa phù hợp, cần có quy định cụ thể hơn các quyền của các chủ thể thanh tra nêu trên.

d. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, phương thức tổ chức giám sát đối với hoạt động của Đoàn thanh tra; việc tổ chức thẩm định và quy trình thẩm định Dự thảo Kết luận thanh tra: quy định hiện nay là phù hợp với thanh tra hành chính nhưng chưa phù hợp với thanh tra chuyên ngành, đặc biệt là Thanh tra Sở do số lượng biên chế còn rất hạn chế (mỗi sở có từ 3 đến 4 thanh tra viên), trong khi phạm vi, đối tượng quản lý rất lớn, ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức hoạt động thanh tra chuyên ngành.

đ. Quyền, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra: quy định hiện nay tại Luật thanh tra là phù hợp.

2.5. Hoạt động theo dõi, giám sát, kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra và thanh tra lại

a. Thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo dõi, giám sát, kiểm tra và các biện pháp bảo đảm việc thực hiện kết luận thanh tra và các quyết định xử lý về thanh tra, đặc biệt là xử lý vi phạm của tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện là phù hợp.

b. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thanh tra, bao gồm khiếu nại đối với quyết định thanh tra, quyết định hành chính, hành vi hành chính trong hoạt động thanh tra và kết luận thanh tra là phù hợp.

c. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, căn cứ, kết quả, hậu quả pháp lý và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động thanh tra lại là phù hợp.

d. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và hình thức xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thanh tra là phù hợp.

2.6. Một số nội dung khác có liên quan

a. Tính hợp hiến, hợp pháp và tính đồng bộ của Luật Thanh tra và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra trong hệ thống pháp luật: Luật Thanh tra và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra đã đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp.

b. Chế độ thông tin báo cáo về công tác thanh tra (bao gồm cả hệ thống biểu mẫu thu thập thông tin theo quy định của pháp luật hiện hành) là phù hợp với thanh tra hành chính, tuy nhiên chưa phù hợp với thanh tra chuyên ngành.

 c. Các quy định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí được trích từ các khoản thu hồi phát hiện qua công tác thanh tra đã thực nộp vào ngân sách nhà nước là phù hợp chủ yếu với thanh tra hành chính.

d. Thanh tra nhân dân và các nội dung khác là phù hợp.

 

III. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

 

1. Đề xuất về việc hoàn thiện Luật Thanh tra và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

 

1.1. Về chỉ tiêu biên chế: 

 

Đề nghị quy định cụ thể về tiêu chí xác định biên chế của Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở (theo quy mô dân số đối với địa phương hoặc theo đối tượng quản lý hoặc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực hoặc tính chất đặc thù của từng ngành, lĩnh vực, địa bàn) để làm căn cứ giao chỉ tiêu biên chế.

 

1.2. Về quy trình, thủ tục tiến hành hành thanh tra: 

 

- Đề nghị bổ sung quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành hành thanh tra chuyên ngành theo thủ tục rút gọn. 

- Đề nghị quy định cụ thể về hoạt động thanh tra liên ngành: căn cứ quyết định thanh tra liên ngành, thẩm quyền ra quyết định thanh tra liên ngành, hoạt động thanh tra liên ngành, kết luận thanh tra liên ngành, trách nhiệm của các cơ quan tham gia Đoàn thanh tra liên ngành.

 

1.3. Về việc thực hiện các quyền trong thanh tra: Đề nghị có quy định cụ thể hơn về việc thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra của người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra, thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành. 

 

1.4. Về công khai kết luận thanh tra: Đề nghị quy định về công khai kết luận thanh tra theo hướng “mở” đối với các cuộc thanh tra chuyên ngành mà nội dung thanh tra không phức tạp thì cơ quan tiến hành thanh tra có thể gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra để thực hiện công khai mà không nhất thiết phải tổ chức công bố công khai tại cuộc họp với thành phần gồm người ra quyết định thanh tra hoặc người được ủy quyền, đại diện Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như quy định hiện nay, đồng thời đăng trên cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành Kết luận thanh tra.

 

1.5. Về xử lý chồng chéo trong hoạt động thanh tra: Đối với các tổ chức KH&CN, đề nghị Kiểm toán Nhà nước khi kiểm toán chỉ xem xét, kiểm tra về tài chính đối với các nhiệm vụ KH&CN đã thực hiện xong và nằm trong niên độ kiểm toán.

 

1.6. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ: 

 

- Đề nghị xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu đối với đội ngũ công chức làm công tác thanh tra để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thanh tra và pháp luật về quản lý trong các lĩnh vực cho đội ngũ cán bộ, công chức và các đối tượng quản lý để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, tăng cường pháp chế, đảm bảo kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quản lý nhà nước.

 

- Đề nghị quy định giao các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức đào tạo, cấp chứng chỉ nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành (nếu đủ điều kiện).

 

2. Đề xuất về các giải pháp tổ chức thi hành Luật Thanh tra

 

2.1. Về công tác kiểm tra, rà soát văn bản

 

Tăng cường công tác kiểm tra, rà soát các văn bản quy định về thanh tra thuộc phạm vi quản lý của các bộ, ngành để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế, bảo đảm phù hợp các quy định của pháp luật và thực tiễn công tác thanh tra. 

 

2.2.  Về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

 

Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thanh tra đến tất cả các bộ, ngành, địa phương và người dân dưới mọi hình thức để tạo sự đồng thuận trong tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về thanh tra.

2.3. Về năng lực thanh tra chuyên ngành

- Tăng cường năng lực cho hệ thống tổ chức thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm trong phạm vi quản lý nhà nước của các bộ, ngành (cụ thể: nguồn nhân lực, tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn trong từng lĩnh vực…).

- Xây dựng cơ chế thông thoáng cho phép các lao động hợp đồng làm việc trong lĩnh vực thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành được tham gia các khóa đào tạo nâng cao chuyên môn nghiệp vụ về thanh tra chuyên ngành tham gia hoạt động thanh tra với tư cách là thành viên đoàn thanh tra để có thể tận dụng tối đa nguồn lực, trí tuệ, kinh nghiệm của lao động hợp đồng trong cơ quan hành chính nhà nước phục vụ công tác thanh tra.

2.4. Về xây dựng cơ sở dữ liệu

Xây dựng cơ sở dữ liệu về thanh tra, kiểm tra liên thông từ Trung ương đến địa phương nhằm tổ chức tốt hoạt động tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh về tình trạng vi phạm pháp luật và nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra.

2.5. Về công tác thanh tra, kiểm tra

 Đẩy mạnh công tác thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực, bảo đảm khách quan, công bằng và tiến hành kịp thời, nhanh gọn, có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý và không làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thanh tra. Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra cần phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính.

2.6. Về các điều kiện vật chất

Tăng cường bảo đảm các điều kiện khác cho việc thi hành Luật Thanh tra như kinh phí hoạt động, trang bị phương tiện chuyên dùng (máy tính xách tay, máy in, máy ảnh kỹ thuật số, ổ cứng ngoài, máy ghi âm, máy chiếu, kho lưu giữ, tủ trưng bày tang vật, phương tiện vi phạm, ô tô…;và các nguồn lực cần thiết cho các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra.


2.7. Về công tác theo dõi thi hành pháp luật

 

Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn; tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc các đối tượng được thanh tra thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra, bảo đảm các quyết định thanh tra, xử lý vi phạm đạt hiệu lực, hiệu quả trên thực tiễn.

 

Từ những kết quả nêu trên có thể thấy, Luật Thanh tra 2010 được ban hành và có hiệu lực thi hành đã góp phần tạo khung pháp lý quan trọng trong việc hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra; công tác thanh tra tại Bộ KH&CN được thực hiện bài bản, đúng quy định pháp luật, mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng được yêu cầu quản lý của Bộ. Qua công tác thanh tra, các cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ngành KH&CN đã phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, nhất là một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng như: sở hữu công nghiệp, TCĐLCL, an toàn và kiểm soát bức xạ hạt nhân.


Lượt xem: 145
Ngày đăng: 2017-10-24 00:00:00